HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
Hotline: 0918148410

Call
 
LIÊN KẾT WEBSITE
THỐNG KÊ TRUY CẬP
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay276
mod_vvisit_counterHôm qua108
mod_vvisit_counterTuần này384
mod_vvisit_counterTuần trước763
mod_vvisit_counterTháng này3005
mod_vvisit_counterTháng trước4573
mod_vvisit_counterTất cả538042

Hiện có: 30 khách trực tuyến

I. NGƯỜI VÔ THẦN

I. NGƯỜI VÔ THẦN

Chủ trương của người vô thần là lấy triết lý Duy vật biện chứng làm nền tảng cho niềm tin .

Niềm tin tôn giáo :Người vô thần hoàn toàn không tin có sự tồn tại của Đấng vô hình , Đấng Tạo Hóa. Tất cả sự hiện hữu của vũ trụ là do tự nhiên tiến hóa từ bậc thấp đến bậc cao, từ đơn bào đến đa bào, qua quá trình đấu tranh lao động để tồn tại và tự phù hợp với môi trường qua hàng triệu năm. Con người là sinh vật cao nhất và chỉ có cuộc sống hiện tại, chết là hết. Và họ lấy vật chất là cứu cánh duy nhất để dẫn đến tinh thần. Họ không tin có Đức Chúa Trời.Trời mà họ thường nhắc đến đó chính là vũ trụ, thiên nhiên.Cái nhìn về trời của họ giống cái nhìn của Bái Vật Giáo trong đạo Phật .

CHỨNG MINH & GIẢNG GIẢI CỦA LẼ THẬT

a) Anghen là một nhà duy vật nhưng ông đã tuyên bố: "Con người là sinh vật có tôn giáo". Nói đến tôn giáo là nói về phương diện tâm linh. Đó là cách tư duy của những nhà duy tâm. Thế nhưng dù tư duy theo kiểu nào thì vẫn không thể loại bỏ tâm linh ra khỏi cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của con người. Bất kỳ ai cũng đều  tin  con người có linh hồn và linh hồn thì không chết . Nó tồn tại vĩnh cửu. (Sáng 2:7).Trong đám tang người ta vẫn nói : "Đưa LINH CỬU về nơi an nghỉ cuối cùng".

Trích lời Hồ Chí Minh:

- “Lòng ta rất đau xót, linh hồn chú biết không, chú Tùng Mậu ơi ? Đành rằng sự mất sự còn là luật chung của tạo hóa. Tôi gạt nước mắt thay mặt chính phủ nghiêng mình trước linh hồn chú…”(Lời điếu đ/c Hồ Tùng Mậu, HCM/TT6/272).

- “Than ôi, tôi chịu tội trước linh hồn anh…”

(Thư gửi họ Nguyễn Sinh, nhân dịp Ông Khiêm, anh ruột Hồ Chí Minh mất, HCM/TT6/114).

Những lời nói trên, chứng tỏ Bác Hồ vẫn tin có linh hồn và linh hồn vẫn còn tồn tại sau khi chết.

b) Chứng nhân: cần phải khơi gợi được những ước muốn tâm linh cho thân hữu. Muốn có cuộc sống tinh thần ổn định con người  cần có niềm tin.

c) Thuyết duy vật chỉ là một giả thuyết.

Trong quyển Nguồn Gốc Loài Người của nhà xuất bản Liên Xô. Khi giải thích : “ Trước đây 3 triệu năm có thể có một sự đột biến trong loài vượn, tự nhiên mặt khỉ nhỏ lại, răng nhọn  trở thành bằng, đi 4 chân bổng nhiên đi 2 chân, các lông rụng để biến thành con người hiện đại….” Rõ ràng niềm tin này chỉ đặt trên hai chữ    “ có thể”. và nếu đọc kỹ thì chúng ta sẽ phát hiện trong cuốn sách có đến 380 chữ  CÓ LẼ, CÓ THỂ.

* Tất cả đều phải có nguyên nhân. Định luật bảo toàn vật chất của Newton nói rằng : "Vật chất không tự nhiên mà có, cũng không tự nhiên mà mất đi", cho nên không thể dùng hai chữ "tự nhiên" để giải thích sự hiện có của vũ trụ, vạn vật trong thiên nhiên được. Không thể tự nhiên mà mọi loài trong thiên nhiên được sắp xếp theo một trật tự nhất định. Không thể tự nhiên xuất hiện những loài hoa thật đẹp, bụi đất tự nhiên trở thành con người có sự sống, có bộ óc thông minh … Không thể nào một thỏi sắt tự bào chế, tự kết cấu để trở thành những cái đồng hồ chạy đúng giờ, hay thành những chiếc xe hơi. Lẽ tất nhiên mọi vật dụng đều phải có những kỹ sư tài ba sáng chế ra. Cho nên nhận định vũ trụ và muôn vật tự nhiên mà có là  nhận định phản khoa học.

 

* Định luật sự sống: "Vật sống sinh từ vật sống" của Pasteur, nghịch lại quan niệm chất vô cơ (chất chết) sinh ra chất hữu cơ (chất sống). Để bảo vệ cho thuyết tự nhiên các nhà  duy vật biện chứng đã nhận định  chất vô cơ sinh ra được chất hữu cơ và họ cho đó là nhận định khách quan. Nhưng sự kiện đó không thể xảy ra theo định luật sự sống.

* Không thể có biến dạng từ loài này qua loài khác. ---> Chứng minh hiện tại loài nào sinh loài đó.

Kinh Thánh chép "TÙY THEO LOẠI". Tuy thay đổi môi trường, điều kiện sống nhưng con người vẫn là con người. Từ xa xưa, con người vẫn có văn hóa mà ngày nay người ta gọi đó là nền văn minh cổ. Ngày nay người ta có thể ghép giống, nhân giống nhưng phải cùng họ và phải tùy theo loại. Theo như định luật bảo toàn vật chất thì vật chất chỉ chuyển hoá từ dạng nầy qua dạng khác. Sự chuyển hoá này phải theo định luật nhất định của tạo hóa, không chuyển hoá một cách vô trật tự. Con chó không thể thành con heo, con cá không thể thành con chim. Vì vậy, Kinh thánh chép “tùy theo loại”.

Trong thế giới hữu hình, tất cả vật sống đều hoàn thiện và kỳ diệu, từ đơn bào đến đa bào, từ bậc thấp đến bậc cao, từ loài côn trùng ,súc vật cho đến loài người…Tất cả đều sinh trưởng phát triển theo quy luật sinh tử  và trãi qua hàng ngàn, hàng triệu năm vẫn như vậy.


 

NIỀM TIN NƠI ĐỨC CHÚA TRỜI

Khi làm chứng cho người vô thần, chứng nhân phải hiểu niềm tin của người vô thần là tin vào thiên nhiên chứ không phải tin vào Đấng Tạo Hóa.

Còn đối với niềm tin của người tin lành thì tin vào ĐẤNG TẠO HOÁ chứ không phải thiên nhiên. Đấng tạo hoá chính là Đức Chúa Trời là Đấng tạo dựng thiên nhiên, đặt ra những định luật để bảo tồn vũ trụ. Ngài là Đấng tạo ra muôn loài vạn vật và đặc biệt là con người theo như hình ảnh của Ngài (Sáng 1-2).

Trong bản Tuyên ngôn của nước Việt Nam ngày 2.9.1945:Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. TẠO HÓA cho họ có quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy là quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời bất hủ ấy trong bản tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do, đó là lẽ phải không ai có thể chối cãi được …” (HCM T.3/355).

 

Như vậy, trong bản tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam đã xác định rõ vũ trụ và sự sống của con người bởi Đấng Tạo Hóa ban cho, không phải sự hình thành của thiên nhiên do tự nhiên tiến hóa như cách suy luận của những người theo trường phái duy vật.

Nhân phẩm và giá trị của con người:

* Đức Chúa Trời tạo nên con người có linh hồn cao quí, mang hình ảnh giống như  Đức Chúa Trời. Địa vị của con người là con của Đấng Tạo Hóa, là Thiên Tử.  (Sáng 2:26; 4:1).

* Đức Chúa Trời ban cho con người có quyền quản trị muôn vật (Sáng 1:26). Con người có trách nhiệm bảo tồn sự sống cho mọi loài cho nên không thể là con cháu của loài vật. (Thử hỏi có ai chấp nhận ông bà tổ tiên của mình là loài khỉ không ?).

* Đức Chúa Trời ban cho con người có trí khôn để “làm cho đất phục tùng”(Sáng.1:28), có khả năng lao động sáng tạo, chinh phục thiên nhiên. Các nhà khoa học luôn tìm ra các định luật sẵn có trong thiên nhiên để chế tạo ra những công cụ để phục vụ đời sống của con người. Từ khi con người sinh ra và lớn lên đã biết mặc áo, biết làm nhà, ra nắng biết đội mũ, ra mưa biết mặc áo tơi, biết làm thủy lợi, diệt sâu bọ côn trùng… Đó không phải là hành động chống Trời là Đấng Tạo Hoá mà chống trời ở đây chỉ về thiên nhiên. Trong câu nói của Bác Hồ: “Ngay cả việc chống trời, có phải làm thủy lợi là chống trời, diệt sâu có phải chống trời  không…? Nhân định : “nhân thắng thiên”.Người vô thần tưởng đó là hành động chống lại Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa. Người thắng trời ở đây chính là thắng thiên nhiên, chống lại thiên nhiên chứ không phải chống Đấng Tạo Hóa. Cũng nên nhớ rằng ngưới vô thần không tin có Đấng Tạo Hóa cho nên chử thiên họ sữ dụng chỉ về thiên nhiên.

Mệnh lệnh của Đức Chúa Trời cho con người là: “Quản trị lòai cá đưới biển, loài chim trên trời, loài côn trùng, súc vật bò trên mặt đất và khắp cả đất… Phải làm cho đất phục tùng”(Sáng 1:26,28) “Chúa ban cho người quyền cai trị công việc tay Chúa làm, khiến muôn vật phục dưới chân người” (Thithiên 8:6). Để quản trị được thiên nhiên, con người phải là con của Đấng Tạo Hóa. Thần Đức Chúa Trời ở trong con người thì con người mới quản trị được thiên nhiên. Chính vì mục đích đó cho nên Đấng Tạo Hóa ban cho con người có trí khôn, và có tâm linh để tương giao với Đức Chúa Trời. Chính vì vậy, NGƯỜI TIN LÀNH CÓ Ý THỨC PHẢI QUẢN TRỊ THIÊN NHIÊN, PHẢI BẢO TỒN MUÔN VẬT. Những phát minh của các nhà khoa học là để phục vụ đời sống  con người chứ không phải để chống Đấng Tạo Hóa. Những đất nước văn minh tiến bộ, có nền  khoa học tiên tiến vượt bậc  họ luôn tin vào Đức Chúa Trời là Đấng tạo hóa duy nhất. Những gì các nhà khoa học khám phá, phát minh  ra được đều đã có sẵn. Nhiệm vụ của con người là khám phá để phục vụ cho cuộc sống mà thôi. Chúng ta hãy cảm tạ Đức Chúa Trời vì Ngài ban cho con người khối óc thông minh, chứ không như con vật,  thế nên đừng bao giờ đồng hóa con người với con vật. Làm như vậy vô tình chúng ta đánh mất nhân phẩm cao quí của con người mà Đấng tạo hóa đã ban cho.

  • Khoa học làm nhiệm vụ khảo cứu mọi điều mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng trong thiên nhiên. Những nhà khoa học chân chính luôn có niềm tin nơi Đức Chúa Trời. Họ rất khiêm nhường và càng thấy kỳ diệu về quyền năng của Đấng Tạo Hóa Và họ thấy rằng  những gì mà con người hiểu biết được chỉ như hạt cát giữa sa mạc, giọt nước giữa đại dương mà thôi.

Tóm lại.

a) Nếu không tin có Đấng tạo hóa là đi ngược lại với khoa học, vì vũ trụ không thể tự nhiên mà có. Khoa học không tìm cách bác bỏ Đấng Tạo Hoá nhưng ngược lại càng chứng tỏ có một Đấng Tạo Hoá sáng tạo với uy quyền tối cao.

b) Nếu không tin có Đức Chúa Trời thì đi ngược lại với lương tâm của chính mình. Tại sao chúng ta phải kêu Trời trong lúc lâm nghuy ?

c) Những người tin vào Đức Chúa Trời sẽ có cuộc sống vật chất đầy đủ, tinh thần bình an, vui thỏa, xã hội văn minh tiến bộ. Xây dựng một nếp sống có nhân cách. Có hy vọng trong tương lai, vì biết chắc sau khi chết có thiên dàng, địa ngục. Người tin Chúa không còn sợ chết, vì đó là ngưỡng cữa bước vào thiên đàng vinh hiển đới đời.

Nhưng Nếu không có niềm tin vào Đức Chúa Trời:

- Nếu chỉ chăm chú vào cuộc sống vật chất thì thật là khốn nạn , mọi sự sẽ trở nên hư không. (I Cô 15:19).

-  Họ lấy bụng mình làm Chúa mình và sự cuối cùng của họ là hư mất (Phil 3:19). Đánh mất nhân phẩm cao quý mà Tạo Hóa đã ban cho.

- Cuộc sống đạo đức suy đồi (Thi 14:1-4).

 

Khi chứng minh về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, chứng nhân phải bám sát bài: ĐỐI TƯỢNG NIỀM TIN

- VỀ ĐỨC CHÚA JESUS :

Khi nói về Chúa Jêsus thì Hồ Chí Minh đã phát biểu: Chúa Cơ Đốc hy sinh để cứu loài người khỏi ách nô lệ và đưa loài người về hạnh phúc, bình đẳng, bác ái, tự do” (HCM T.7/129).

Đức Chúa Jêsus đã giáng thế và đã hy sinh cho tự do và bác ái giữa loài người. Tôi kính cầu Đức Chúa ban cho đồng bào mọi phước lành” (HCM T.6/359).

Như vậy, qua lời nói của Hồ Chí Minh. Bác đã nhận định về Chúa Jesus :

- Ngài là Đấng từ Trời giáng sinh làm người tức là chính Ngài là Đức Chúa Trời giáng xuống trần gian.

- Mục đích Chúa Jesus đến: Chúa JESUS đã chịu chết để giải phóng loài người ra khỏi ách nô lệ: đó là sự nô lệ của tội lỗi,  của ma quỉ và Chúa Jesus đến để đưa con người tới quyền bình đẳng, giải phóng con người ra khỏi nô lệ. Biến đổi con người tốt.

- Chúa Jesus là con đường duy nhất để đưa xã hội loài người đến HẠNH PHÚC, BÌNH ĐẲNG, BÁC ÁI và TỰ DO.

- Bác Hồ vẫn tin và cầu nguyện với Chúa Jesus ban phước cho đồng bào tức là cho mọi người dân Việt Nam. Chúa Jesus chính là nguồn phước cho mọi người.

Như vậy, chính Hồ Chí Minh cũng đã xác nhận giá trị của Chúa Jesus giáng thế hy sinh để giải phóng con người ra khỏi nô lệ của tội lỗi,  ma quỉ,  ban cho con người được hưỡng hạnh phúc, bình đẳng, bác ái và tự do.

Chứng minh BỘ XƯƠNG 3 TRIỆU NĂM .

Có một người đến hỏi tôi :

- Thầy tin Kinh Thánh là chân lý hay khoa học là chân lý? Tôi trả lời:

-  Kinh Thánh là chân lý và những gì khoa học tìm ra đều không mâu thuẫn với Kinh Thánh.

Anh ta nói :

-  Không phải vậy. Tại sao ngày nay người ta tìm được một bộ xương người hóa thạch có độ tuổi đến ba triệu năm mà trong Kinh Thánh con người chỉ xuất hiện trên trái đất khoảng sáu ngàn năm tính từ thời Ađam? Có moat số người cho là có con người trước khi sáng thế mà kinh thánh không nói đến. Phải chăng có con người tiền Ađam mà Kinh Thánh không nhắc đến?

Tôi trả lời:  Không phải. Vì Kinh Thánh ghi rất rõ trong Sáng thế ký 1:2, đất là vô hình và trống không rồi Đức Chúa Trời bắt đầu tạo dựng vũ trụ. Nếu có như vậy  thì chúng ta nêu lên các luận chứng như sau:

1. Kiểm chứng lại xem đó là bộ xương người hay vật ?

Tôi tin rằng cơ thể vật lý của con người và một số con vật gần giống nhau. Ví dụ  : vượn người, dã nhân ... Theo thứ tự sáng tạo của Kinh Thánh ghi thì con vật được tạo hóa trước con người mà thời gian được ghi trong Kinh Thánh không phải là một ngày 24 tiếng đồng hồ nhưng là một thời kỳ có thể cách nhau hàng triệu năm. Vì thời gian đối với Đức Chúa Trời được Kinh Thánh chép một ngàn năm trước mắt Chúa như ngày hôm qua đã qua rồi, giống như một canh của đêm (Thi thiên 90:4). Cho nên bộ xương đó nếu đúng về thời gian thì đó là của loài vật. Nhất là những bộ xương người và vật có thể giống nhau. Chúng ta cũng nên biết có một số nhà khoa học muốn bác bỏ những sự kiện trong Kinh Thánh nên cho đó là bộ xương người.

2.Kiểm chứng trên phương diện lịch sử các quồc gia.

Chúng ta thử  tìm xem các dân tộc trên thế giới, có dân tộc nào có lịch sử trên sáu ngàn năm không? Chắc chắn là không.

Ví dụ : Lịch sử nước Việt Nam chỉ có bốn ngàn năm văn hiến. Từ đời Vua Hùng có truyền thuyết Lạc Long Quân lấy Âu Cơ, nếu đúng theo truyền thuyết đó thì Việt Nam chỉ là một cộng đồng nhỏ ở phía Bắc Cao Bằng, Lạng Sơn .

- Đại Hàn có bề dày về  lịch sử là năm ngàn  năm :

- Trung Quốc trên 5000 năm lịch sử…

3.Xác định về sự phát triển dân số.

Chúng ta hãy lấy sự phát triển dân số của Việt Nam làm ví dụ .

Năm 1921  : có 17 triệu dân

Năm 1960 :  có 30 triệu dân

Năm 1998 :  có 77 triệu dân

Như vậy tính từ năm 1921 đến năm 1998 chỉ 3/4 thế kỉ mà sự phát triển dân số lên đến 60 triệu. So với các nước trong khu vực  Đông Nam Á ,Việt Nam đứng thứ hai và đứng thứ  mười ba trong tổng số hơn 200 quốc gia trên thế giới .(Số liệu thống kê của cục dân số do Bộ giáo dục và đào tạo công bố năm 1998. ). Năm 1921 Việt Nam có số dân là 21 triệu, chúng ta hãy tính ngược lại mất khoảng bao nhiêu năm để bắt đầu từ một gia đình sinh ra?

Nếu con người đã có mặt trên đất hàng triệu năm thì đến nay trên trái đất sẽ không còn đất cho con người ở . Đó là điều phi thực tế.

Khi anh bạn nghe đến đó đã hiểu và anh đã xác định được niềm tin của mình trong nền tảng của Kinh Thánh. Sau này anh đi xa chúng tôi nửa vòng trái đất, anh có dịp viết thư cho tôi rằng: "Anh A. mến ... tôi rất mến anh và cảm ơn  anh nhiều về những lần anh giảng lời Chúa và giải đáp thắc mắc cho tôi để tôi có một đức tin vững vàng hơn và có một đời sống phước hạnh hơn trong Chúa không bị hư mất ..." (LNS.)


Đọc tiếp.


 

 

CHƯƠNG 2:

TRUYỀN GIÁO CÁC TÔN GIÁO

I. Vô thần.

II. Lương giáo.

III.Công giáo La Mã.

IV.Phật giáo.

V.Cao Đài

VI.Chủ nghĩa hiện sinh

Chương 3. Nhận định tà giáo.

I.Chứng Nhân Giê Hô Va.

II. Cơ Đốc Phục Lâm.


Note: Các nội dung bên trên được xem là các phương pháp chứng minh cho các tôn giáo khác về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời


 
VIDEO
HÌNH ẢNH NỔI BẬT





























 
thiet ke web thiet ke website web gia re lam web dep thiet ke web pro thiet ke web chuyen nghiep website gia re thiet ke website gia re thiet ke website chuyen nghiep thiet ke website pro thiet ke web gia re website chuyen nghiep web chuyen nghiep website web web site cong ty thiet ke web web 100$ website free web free website mien phi web mien phi cho thue xe thue xe can thue xe xe du lich thue xe du lich thue xe gia re thue xe hoi thue xe hoa thue xe cuoi thue xe du lich dich vu thue xe thue xe dich vu thue xe tu lai thue xe co tai thue xe thang hop dong thue xe cho thue xe gia re thue xe doi moi thue xe toyota thue xe ford thue xe camry thue xe honda sua may tinh sua laptop sua chua may tinh sua may tinh gia re bao tri may tinh bao tri mang bao tri he thong sua may tinh tai nha sua may tinh tan noi thiet ke mang thi cong mang mang wifi trien khai he thong mang may tinh may tinh IBM may tinh bo may tinh de ban nuskin my viet nuskin viet nam nuskin may rang ca phe ca phe sach ca phe nguyen chat